Trang thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình

Khơi thông chính sách tín dụng nước sạch nông thôn

5/4/2020 17:05   368
Những năm qua, chính sách tín dụng cho vay nông nghiệp, nông thôn được các chi nhánh ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện có hiệu quả. Trong đó phải kể đến nguồn vốn Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã góp phần cải thiện môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.

Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn có nhiều ưu đãi như thời hạn vay dài, lãi suất thấp, dư nợ cho vay bình quân trên 6,3 tỷ đồng/xã, với mức cho vay bình quân 7,1 triệu đồng/công trình. Đây là nguồn vốn quan trọng hỗ trợ hộ dân tại khu vực nông thôn xây nhà vệ sinh, đào giếng, lắp đặt hệ thống nước sinh hoạt, đồng thời góp phần khơi thông chính sách tín dụng cho vay nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước tỉnh, tính chung trong giai đoạn 2004 - 2019, tổng doanh số cho vay các chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn đạt 7.111.231 triệu đồng. Từ nguồn vốn trên, Ngân hàng chính sách xã hội đã giải ngân cho trên 471 nghìn lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn; tổng doanh số thu nợ đạt 4.839.982 triệu đồng.

Tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn đạt 2.420.139 triệu đồng với hơn 76 nghìn khách hàng còn dư nợ. Trong đó, đối với chương trình cho vay nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn doanh số cho vay đạt 1.292.870 triệu đồng, với trên 117 nghìn lượt hộ được vay vốn; doanh số thu nợ đạt 545.020 triệu đồng; dư nợ cho vay đạt 747.397 triệu đồng, với 52.019 khách hàng còn dư nợ, tăng 740.397 triệu đồng và gấp 105,8 lần so với khi mới bắt đầu triển khai chương trình.

Chỉ tính riêng hết năm 2019, tổng nguồn vốn thực hiện các chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn đạt 2.422.557 triệu đồng, trong đó: Nguồn vốn cân đối từ Trung ương đạt 2.062.960 triệu đồng; nguồn vốn nhận ủy thác tại địa phương là 84.139 triệu đồng; nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 275.458 triệu đồng. Riêng nguồn vốn thực hiện chương trình nước sạch & VSMTNT đạt 747.397 triệu đồng, chiếm 31%/tổng nguồn vốn cho vay các chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn.

Với số vốn trên đã giúp cho các hộ gia đình trên địa bàn xây được 105.177 công trình nước sạch và 100.544 công trình hợp vệ sinh. Cùng với việc tăng trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng chính sách trên địa bàn tiếp tục được nâng cao. Đến hết năm 2019, tổng nợ quá hạn và nợ khoanh các chương trình tín dụng chính sách nói chung trên địa bàn là 10.779 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,44% so với tổng dư nợ. Trong đó, nợ quá hạn là 10.736 triệu đồng, chiếm 0,43%, nợ khoanh là 43 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,002%. Trong khi đó, đối với chương trình cho vay nước sạch & VSMTNT, nợ quá hạn chỉ 1.014 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,13%/tổng dư nợ của chương trình.

Việc triển khai thực hiện chương trình tín dụng nước sạch & VSMTNT đã góp phần giúp tỉnh Ninh Bình thực hiện tốt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch & VSMTNT trên địa bàn. Đến nay, tỷ lệ hộ dân nông thôn của tỉnh được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95,1%. Trong đó, tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn Quốc gia là 61,1%. Tỷ lệ hộ dân nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 73,7%. Tỷ lệ hộ gia đình ở nông thôn chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh đạt 55%. Tỷ lệ số trường học mầm non, phổ thông và số trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh sử dụng tốt đạt 100%.

Có thể khẳng định, chương trình tín dụng nước sạch & VSMTNT đã góp phần quan trọng vào thực hiện Chiến lược về nước sạch & VSMTNT, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Ninh Bình. Đối với các hộ dân ở khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch, công trình vệ sinh hợp chuẩn không những đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng dân cư, mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn, đồng thời góp phần giảm thiểu bệnh tật do thiếu nước sạch hoặc sử dụng công trình vệ sinh chưa đảm bảo tiêu chuẩn, giảm chi phí khám, chữa bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho người dân; thu hẹp khoảng cách về điều kiện sinh hoạt giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng nông thôn mới nhau. Qua đó hình thành nếp sống văn hóa, văn minh, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường.

nguồn: Nguyễn Thơm/baoninhbinh.org.vn