Trang thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình

Kết quả đại hội đại biểu đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở nhiệm kỳ 2020-2025

7/9/2020 16:33   153
Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (viết tắt là Chỉ thị 35) và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương; đến nay, các đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở (viết tắt là cấp trên cơ sở) trong toàn Đảng đã cơ bản hoàn thành việc tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2020-2025.

I. TÌNH HÌNH VÀ QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ 

1. Tình hình

Đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở nhiệm kỳ 2020-2025 diễn ra từ tháng 5-2020 trong bối cảnh toàn Đảng đã tổ chức thành công đại hội đảng cấp cơ sở; kinh tế - xã hội tuy gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 nhưng vẫn là một trong số ít các nước trên thế giới duy trì mức tăng trưởng dương; quốc phòng, an ninh tiếp tục được tăng cường; độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt được nhiều thành tựu quan trọng,… được dư luận đánh giá cao.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là sự ảnh hưởng của đợt tái bùng phát dịch bệnh từ giữa tháng 7-2020. Song, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; sự tích cực, chủ động, sáng tạo của các cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở đã cơ bản được tổ chức thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng vào công tác chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 sắp tới.

2. Quá trình chuẩn bị

2.1. Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo

- Thực hiện Chỉ thị 35 của Bộ Chính trị, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã sớm tổ chức hội nghị quán triệt các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, nhất là những nội dung mới trong Chỉ thị 35 và các bài viết của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng về công tác nhân sự, về chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; kế hoạch tổ chức đại hội đảng bộ các cấp; thành lập các tiểu ban, các tổ chỉ đạo đại hội và phân công các đồng chí ủy viên ban thường vụ, cấp ủy viên chỉ đạo, theo dõi các đảng bộ trực thuộc.

- Bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và cấp ủy cấp trên, các cấp ủy cấp trên cơ sở đã chủ động xây dựng kế hoạch và tích cực triển khai công tác chuẩn bị đại hội.

- Trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, nhiều cấp ủy đã xây dựng các phương án cụ thể vừa bảo đảm phòng, chống dịch hiệu quả, vừa chuẩn bị và tổ chức đại hội theo đúng yêu cầu, nội dung và tiến độ đề ra. 

2.2. Về công tác chuẩn bị văn kiện 

- Các cấp ủy đã bám sát nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2015-2020, kết quả thực hiện nghị quyết trong nhiệm kỳ qua và tình hình thực tế để xây dựng dự thảo báo cáo chính trị, báo cáo kiểm điểm của cấp ủy; tổ chức thảo luận, tổng hợp ý kiến góp ý vào các dự thảo văn kiện của Trung ương và cấp ủy cấp trên trực tiếp.

- Dự thảo báo cáo chính trị được xây dựng nghiêm túc, bài bản, qua nhiều bước lấy ý kiến; coi trọng việc tổng kết mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả; phát huy dân chủ, tập hợp trí tuệ của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, của cán bộ, đảng viên và nhân dân; tiếp thu ý kiến của các cơ quan chuyên môn cấp trên, cấp ủy cấp trên trực tiếp, nhất là việc xác định mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu trong nhiệm kỳ tới cho phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển chung, có tính khả thi cao.

- Dự thảo báo cáo kiểm điểm của cấp ủy được chuẩn bị trên cơ sở Quy định 202-QĐ/TW ngày 2-8-2019 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện; quy chế làm việc để đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong nhiệm kỳ, chỉ rõ những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan; rút ra bài học kinh nghiệm và đề ra giải pháp khắc phục trong nhiệm kỳ tới.

- Dự thảo “Chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội” bám sát mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu nhiệm kỳ 2020-2025 nêu trong báo cáo chính trị; xác định nội dung, biện pháp, thời gian thực hiện và phân công nhiệm vụ cụ thể cơ quan, đơn vị chủ trì, phối hợp thực hiện. 

2.3. Về công tác chuẩn bị nhân sự

Công tác chuẩn bị nhân sự đại hội được các cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện theo đúng nguyên tắc, quy định, quy trình theo Chỉ thị 35 của Bộ Chính trị, Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương và các chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy cấp trên.

- Đề án nhân sự cấp ủy được xây dựng trên cơ sở tổng kết công tác nhân sự nhiệm kỳ 2015-2020, thực trạng đội ngũ cán bộ và yêu cầu, nhiệm vụ của đảng bộ trong những năm tới; đồng thời, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, tạo sự thống nhất trong cấp ủy và ban thường vụ. Đã xác định rõ tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng cấp ủy viên phù hợp tình hình thực tế của đảng bộ và việc thực hiện giảm khoảng 5% số lượng cấp ủy so với nhiệm kỳ trước. Giới thiệu nhân sự tham gia cấp ủy và các chức danh lãnh đạo chủ chốt khóa mới trong quy hoạch, bảo đảm số dư theo quy định; đồng thời, gắn với nhân sự lãnh đạo HĐND, UBND nhiệm kỳ 2021-2026. Một số tỉnh ủy đã chỉ đạo 100% đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở bầu trực tiếp bí thư cấp ủy (Quảng Ninh, Yên Bái, Hà Tĩnh,…).

- Đã tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch; chủ động bố trí, phân công điều động, luân chuyển cán bộ trước đại hội theo đề án nhân sự, trong đó, quan tâm cán bộ nữ, trẻ có triển vọng. Một số nơi đã chủ động trong việc bầu thiếu cấp ủy để điều động, bố trí, sắp xếp cán bộ sau đại hội.

- Tập trung chỉ đạo việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến nhân sự đại hội và những vấn đề vướng mắc, nổi cộm ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Làm tốt công tác chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí còn tuổi công tác nhưng không đủ điều kiện tái cử; rà soát, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị đối với nhân sự giới thiệu tham gia cấp ủy theo Quy định 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị.

2.4. Về công tác thông tin tuyên truyền và chuẩn bị cơ sở vật chất

- Các cấp ủy xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện công tác tuyên truyền trước, trong và sau đại hội bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Chỉ đạo tập trung tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng, mục tiêu, nhiệm vụ của đại hội đảng bộ; những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; góp ý vào các dự thảo văn kiện…

- Lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát công tác bảo đảm an ninh, trật tự, chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ đại hội với phương châm an toàn, tiết kiệm, tránh lãng phí.

- Nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và dư luận nhân dân; kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh; đấu tranh với các quan điểm sai trái, chống phá của các thế lực thù địch.

2.5. Về việc chỉ đạo đại hội điểm để rút kinh nghiệm

Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã lựa chọn và chỉ đạo tổ chức 127 đại hội điểm (chiếm 9,7%); qua đó, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập trước khi triển khai trên diện rộng.

II. KẾT QUẢ ĐẠI HỘI

1. Về tiến độ, nội dung và thời gian đại hội

- Tính đến hết ngày 31-8-2020, có 1.298/1.311 đảng bộ đã hoàn thành đại hội (chiếm 99,0%)[1], trong đó có đảng bộ trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo hoàn thành 100% trong tháng 7-2020 (Quân đội, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Cần Thơ). Hầu hết các đảng bộ đều hoàn thành đại hội trong nửa đầu tháng 8-2020; một số tỉnh ủy đã nỗ lực khắc phục khó khăn của bệnh dịch để lãnh đạo, chỉ đạo các đảng bộ tổ chức thành công đại hội (Hải Dương, Quảng Nam, Phú Yên).

- Các đại hội đều tiến hành đủ 4 nội dung, đại đa số các đảng bộ tổ chức đại hội trong thời gian 2 - 2,5 ngày, một số nơi diễn ra trong 1,5 ngày[2].

2. Việc thảo luận các dự thảo văn kiện tại đại hội

Nhìn chung, các đại hội đã dành thời gian hợp lý cho thảo luận các dự thảo văn kiện và nhận được nhiều ý kiến phát biểu đồng tình. Nhiều ý kiến tham gia thẳng thắn, tâm huyết, phân tích làm sâu sắc hơn những chuyển biến tích cực của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong nhiệm kỳ, nhất là công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện suy thoái. Các ý kiến tham gia, đóng góp vào các dự thảo văn kiện của Trung ương, cấp trên trực tiếp được cấp ủy tổng hợp đầy đủ và báo cáo trước đại hội.

3. Kết quả bầu cử

Qua tổng hợp báo cáo kết quả của 1.275 đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở cho thấy:

3.1. Bầu cử cấp ủy

- Tổng số cấp ủy viên bầu được là 36.954 đồng chí; trong đó: số tái cử 27.690 (chiếm 74,9%); tham gia lần đầu 9.264 (25,1%); nữ 6.376 (17,3%); dưới 40 tuổi 5.469(14,8%); cán bộ người dân tộc thiểu số 3.995 (10,8%). Số bầu thiếu so với số lượng đại hội quyết định là 828 đồng chí(2,2%); số không tái cử là 352 (1,3%). Số dư trong danh sách bầu đạt 11,5%.

- Số cấp ủy viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ đại học trở lên là 36.746 (chiếm 99,4%); trong đó, có 939 tiến sỹ (2,5%),12.068 thạc sỹ (32,7%). Số cấp ủy viên có trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân là  32.175 (87,1%). Tuổi trung bình 46,2.

Nhiều đảng bộ có cán bộ nữ[3], trẻ dưới 40 tuổi[4] trúng cử cấp ủy chiếm tỷ lệ cao, vượt yêu cầu của Chỉ thị 35.

3.2. Bầu cử ban thường vụ

- Tổng số ủy viên ban thường vụ bầu được là 11.071 đồng chí; trong đó: số tái cử 8.477 (chiếm 76,6%); tham gia lần đầu 2.594 (23,4%); nữ 1.459 (13,2%); dưới 40 tuổi 942 (8,5%); cán bộ người dân tộc thiểu số 1.208 (10,9%). Số bầu thiếu so với phương án nhân sự 420 (3,7%); số không tái cử 54 (0,6%). Số dư trong danh sách bầu đạt 13,5%. Tuổi trung bình 48,3.

3.3. Bầu cử bí thư, phó bí thư cấp ủy

- Tổng số bí thư cấp ủy bầu được là 1.141 đồng chí; trong đó: số tái cử 926 (chiếm 81,2%); tham gia lần đầu 215 (18,8%); nữ 91 (8,0%); dưới 40 tuổi 47 (4,1%); cán bộ người dân tộc thiểu số 86 (7,5%). Có 456 đồng chí không phải người địa phương (40,0%); 122 đồng chí được bầu trực tiếp tại đại hội; 40 đảng bộ chưa bầu bí thư do chưa chuẩn bị được nhân sự, sẽ kiện toàn sau đại hội[5]. Tuổi trung bình 48,9.

- Tổng số phó bí thư cấp ủy bầu được là 2.054 đồng chí; trong đó: số tái cử 1.513 (chiếm 73,7%); tham gia lần đầu 541 (26,3%); nữ 177 (8,62%); dưới 40 tuổi 121 (5,9%); cán bộ người dân tộc thiểu số 222 (10,8%); số bầu thiếu so với phương án nhân sự 111 (5,2%).Tuổi trung bình là 49,1.

3.4. Bầu đoàn đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên

Các đại hội đã bầu được 23.920 đại biểu chính thức và 2.191 đại biểu dự khuyết đi dự đại hội đảng bộ cấp trên, bảo đảm đúng nguyên tắc, thủ tục, đủ số lượng, cơ cấu theo quyết định phân bổ của cấp ủy cấp trên.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Đến thời điểm 31-8-2020, đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở cơ bản hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm yêu cầu chất lượng, nội dung của Chỉ thị 35. Một số ít đảng bộ chưa tổ chức đại hội[6], nhưng đều đã có kế hoạch, dự kiến  hoàn thành trước 15-9-2020. Kết quả và thành công của đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở là một trong những điều kiện cơ bản để các đảng bộ trực thuộc Trung ương tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2020-2025.

Qua tổng hợp báo cáo của các cấp ủy, tổ chức đảng về tổ chức đại hội, cho thấy một số ưu điểm, hạn chế như sau:

1. Ưu điểm

- Hệ thống các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương về công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội được ban hành kịp thời, cơ bản phù hợp, sát thực tế, nội dung rõ ràng, dễ thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cụ thể hóa và triển khai thực hiện ở các cấp.

- Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã chủ động ban hành các văn bản, hướng dẫn cụ thể hóa phù hợp với tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị; tập trung chỉ đạo công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội điểm để rút kinh nghiệm trước khi triển khai ra diện rộng. Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội được các cấp ủy thực hiện nghiêm túc, bài bản, đúng quy định, hướng dẫn của Trung ương và cấp ủy cấp trên. Công tác thông tin, tuyên truyền trước, trong và sau đại hội được quan tâm.

- Báo cáo chính trị, báo cáo kiểm điểm của cấp ủy được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi, tập hợp được trí tuệ của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhiều báo cáo thể hiện tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc; đánh giá khách quan về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2015-2020; đồng thời, quán triệt quan điểm, định hướng lớn của cấp trên, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, chương trình hành động cụ thể, phù hợp với tình hình mới.

- Không khí thảo luận ở nhiều đại hội sôi nổi, thẳng thắn, tập hợp được trí tuệ, phát huy dân chủ, đoàn kết; tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng. Nhiều cấp ủy làm tốt công tác hướng dẫn thảo luận, tổng hợp ý kiến góp ý vào các dự thảo văn kiện của Trung ương và cấp ủy cấp trên.

- Công tác nhân sự nhìn chung đã được chỉ đạo chặt chẽ, thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình 5 bước, bảo đảm dân chủ, khách quan, công tâm, minh bạch. Việc bầu cử tại đại hội bảo đảm đúng nguyên tắc, thủ tục theo quy định của Điều lệ Đảng và Quy chế bầu cử. Kết quả bầu cử cơ bản theo đúng đề án, bảo đảm yêu cầu về chất lượng, số lượng, cơ cấu. Tỷ lệ cấp ủy viên là nữ, dưới 40 tuổi nói chung vượt yêu cầu Chỉ thị 35 đề ra. Hầu hết các đại hội bầu một lần đủ số lượng cấp ủy và đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên. Các đồng chí trúng cử đều đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định, hầu hết trong quy hoạch; trình độ lý luận chính trị, chuyên mônso với nhiệm kỳ trước được nâng lên. Các đại hội đều thực hiện việc lấy phiếu giới thiệu của đại hội về nhân sự bí thư cấp ủy trước khi bầu bí thư cấp ủy theo quy định.

- Việc thực hiện chủ trương đại hội trực tiếp bầu bí thư cấp ủy được quan tâm chỉ đạo mở rộng so với nhiệm kỳ trước. Các đồng chí bí thư cấp ủy được bầu trực tiếp tại đại hội đều trúng cử với tỷ lệ phiếu rất cao, nhiều đồng chí đạt 100%[7]. Việc thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy không là người địa phương được quan tâm đẩy mạnh và đạt được kết quả tốt.

- Công tác tổ chức, điều hành đại hội và phiên họp thứ nhất của cấp ủy khóa mới được thực hiện đúng quy chế, quy định và bám sát phương án nhân sự được chuẩn bị. Công tác bầu cử được tiến hành khoa học, chặt chẽ với thời gian được rút ngắn, kết quả kiểm phiếu chính xác.

2. Hạn chế

- Báo cáo chính trị ở một số nơi còn dàn trải, mang tính liệt kê, nặng trình bày về số liệu; một số nơi đánh giá chưa toàn diện, thiếu tính khái quát, chưa đi sâu phân tích những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; chưa xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của nhiệm kỳ tới, thiếu những giải pháp mang tính đột phá nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, cơ quan, đơn vị. Việc đánh giá kết quả thực hiện các nghị quyết, quy định của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở một số nơi chưa sâu sắc, toàn diện và chưa đề ra được các giải pháp cụ thể.

- Báo cáo kiểm điểm của cấp ủy còn có nội dung trùng lặp với báo cáo chính trị; một số nơi chưa đi sâu kiểm điểm việc thực hiện các nguyên tắc, phương thức lãnh đạo, quy chế làm việc của cấp ủy; việc đổi mới phương pháp, lề lối làm việc hiệu quả; chưa chỉ rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là của người đứng đầu đối với những hạn chế, khuyết điểm của tập thể cấp ủy. Vẫn còn một số cấp ủy chưa đề cao tính chiến đấu, có biểu hiện nể nang, né tránh trong tự phê bình và phê bình.

- Báo cáo tổng hợp, tiếp thu ý kiến thảo luận vào các dự thảo văn kiện của Trung ương và của cấp ủy cấp trên trực tiếp ở một số đảng bộ còn chưa rõ nội dung, không có giải trình hoặc giải trình chưa thực sự thuyết phục.

- Việc thảo luận tại đại hội ở nhiều nơi chưa thực sự sôi nổi, tranh luận còn ít. Một số bài tham luận còn nặng về báo cáo thành tích, nội dung chủ yếu nói về công tác chuyên môn của đơn vị, chưa chú trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

- Công tác chuẩn bị nhân sự của một số cấp ủy chưa thật tốt nên có trường hợp bầu không đúng với đề án nhân sự được phê duyệt. Một số ít nơi, nhân sự được giới thiệu tái cử nhưng không trúng cử, cá biệt có cán bộ chủ chốt[8] tái cử không trúng cử cấp ủy hoặc bí thư, phó bí thư; một số nơi có biểu hiện lạm dụng việc chỉ định bí thư tại đại hội hoặc ngay sau đại hội, gây nhiều ý kiến trái chiều và dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân[9].

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là: 

(1) Một số cấp ủy chưa thực sự nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Chỉ thị 35 của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, nhất là những nội dung mới về công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.

(2) Việc lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của một số cấp ủy chưa thường xuyên, sâu sát, quyết liệt, trong đócó vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy; chưa làm tốt công tác chính trị tư tưởng và giải quyết chưa dứt điểmnhững vướng mắc, nổi cộm ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

(3) Công tác nhân sự của một số cấp ủy chưa thật sự chặt chẽ, còn bị động, chưa gắn kết với tình hình thực tiễn, có nơi còn biểu hiện chủ quan, cục bộ, vận động, gượng ép, giới thiệu nhân sự chưa thực sự có tín nhiệm cao.

(4) Một số cấp ủy chưa lường hết được những khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh để có giải pháp bảo đảm tiến độ đại hội theo quy định.

3. Một số bài học kinh nghiệm

(1) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng phù hợp với từng đối tượng, đặc điểm, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị.

(2) Bảo đảm đúng quy trình, dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch trong công tác nhân sự đại hội theo phương châm “làm từng bước chặt chẽ, từng việc cụ thể, từng nhóm chức danh từ thấp đến cao, bảo đảm thận trọng, kỹ lưỡng, làm đến đâu chắc đến đó”. Chủ động nắm chắc tình hình nhân sự, kịp thời xử lý các tình huống ngoài dự kiến.

(3) Đổi mới phương pháp điều hành trong việc lấy ý kiến tham gia vào dự thảo văn kiện đại hội; chú trọng gợi ý thảo luận sâu, tập trung vào những nội dung mới, khó hoặc những vấn đề còn ý kiến khác nhau, các chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp đột phá.

(4) Chủ động dự báo để có phương án ứng phó, giải quyết có hiệu quả đối vớicác diễn biến phức tạp của dịch bệnh, thiên tai… gắn với việc tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp.

(5) Khi xử lý các tình huống phát sinh trong tổ chức đại hội, nhất là trong công tác nhân sự, bầu cử phải luôn giữ vững và thực hiện đúng các nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo phương châm đơn giản hóa các vấn đề phức tạp, xem xét, xử lý từng vấn đề độc lập trong tổng thể vướng mắc, làm đến đâu gọn đến đó, kiên quyết không vì khó khăn trước mắt mà để xảy ra tình trạng lấy sai để sửa sai.

4. Một số vấn đề cần tập trung thực hiện sau đại hội

Sau đại hội, các cấp ủy cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung cụ thể sau:

- Khẩn trương cụ thể hóa nghị quyết đại hội và chương trình hành động thực hiện nghị quyết; xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ 2020-2025 để thực hiện.

- Sớm xây dựng, ban hành quy chế làm việc của cấp ủy và phân công nhiệm vụ cụ thể cho cấp ủy viên; chuẩn bị tốt việc phân công công tác đối với nhân sự giữ các chức danh lãnh đạo hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân theo đúng quy định.

- Làm tốt công tác tư tưởng, quan tâm sắp xếp, bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với những cán bộ không đủ điều kiện tái cử hoặc được giới thiệu tái cử nhưng không trúng cử.


[1] 5 đảng bộ trực thuộc Trung ương còn  đảng bộ cấp trên cơ sở chưa tổ chức xong đại hội: Cà Mau (2), Long An (1), Kiên Giang (1), Khối Các cơ quan Trung ương (7), Khối Doanh nghiệp Trung ương (2).

[2] Đảng bộ Quân sự tỉnh Quảng Bình, Tây Ninh,…; 100% đảng bộ cấp trên cơ sở thuộc tỉnh ủy Phú Thọ tổ chức đại hội trong 1,5 ngày.

[3] TP. Hồ Chí Minh (27,3%), Lạng Sơn (26,7%), Bình Dương (25,2%), Ninh Bình (24,5%)...

[4] Lạng Sơn (23,3%), Lai Châu (23,3%), Đắk Nông (21,8%), Gia Lai (20,6%), Sơn La (20,0%)…

[5] Hà Nội (1), Hưng Yên (1), Thái Bình (1), Hà Nam (2), Tuyên Quang (1), Phú Thọ (2), Lai Châu (1), Thanh Hóa (5), Hà Tĩnh (1), Quảng Ngãi (4), Khánh Hòa (1), Đắk Lắk (2), Đắk Nông (2), Thành phố Hồ Chí Minh (7), Đồng Nai (1), Tây Ninh (1), Tiền Giang (1), Trà Vinh (1), Hậu Giang (1), Kiên Giang (2), Khối Doanh nghiệp Trung ương (2).

[6] Đảng bộ Khối Các cơ quan Trung ương (7), Khối Doanh nghiệp Trung ương (2), Cà Mau (2), Long An (1), Kiên Giang (1).

[7] Bí thư các cấp ủy: Móng Cái (Quảng Ninh), Can Lộc (Hà Tĩnh), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Phong Điền (Cần Thơ), Hồng Dân (Bạc Liêu),…

[8] Bí thư, phó bí thư các cấp ủy: Quốc Oai (Hà Nội), Tây Giang (Quảng Nam), Tân Hưng (Long An), Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Trị (Quảng Trị), Tổng Công ty Đông Bắc (Bộ Quốc phòng).

[9] Thành ủy Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Huyện ủy Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Nguồn: xaydungdang.vn